top of page

Chánh Kiến Tịnh Độ

      Đức Phật dạy: Người muốn vãng sinh Tịnh Độ phải tu tập "ba phước", đó cũng là là chánh nhân tịnh nghiệp của chư Phật trong ba đời mười phương. Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, đức Phật đã dạy về ba phước này như sau:

     "Ai muốn vãng sinh về cõi Cực Lạc nên tu ba phước. Phước thứ nhất là (1) hiếu dưỡng cha mẹ, (2) phụng sự sư trưởng, (3) từ tâm bất sát, (4) tu mười thiện nghiệp. Phước thứ hai là (5) thọ trì tam quy, (6) giữ tròn các giới, (7) không phạm oai nghi. Phước thứ ba là (phát Bồ-đề tâm, (9) tin sâu nhân quả, ( 10 ) đọc tụng Đại Thừa, (11) khuyến tấn hành giả.

 

      Ba phước trên đây gọi là tịnh nghiệp.

 

      Phật lại bảo rằng: Này Vi-đề-hy! Bà có biết không? Ba phước này là chánh nhân tịnh nghiệp của Phật ba đời quá khứ, hiện tại, cho đến vị lai."

      (Trích từ Tinh Yếu Ba Kinh Tịnh Độ-Sakya Minh-Quang dịch)

      Ba phước trên cũng là "Chánh Kiến Tịnh Độ". Người tu Tịnh Độ cần phải có chánh kiến Tịnh Độ. Nếu không, chúng ta sẽ biến pháp môn Tịnh Độ thù thắng, khế lý khế cơ,thu nhiếp ba căn này thành "thần quyền cứu rỗi", trái với nhân quả và tinh thần xuất thế của Phật Pháp căn bản, cũng như phương tiện thiện xảo và mục đích cứu cánh của Phật Pháp Đại Thừa.

Chánh Kiến Tịnh Độ

Chánh kiến Tịnh Độ có ba: 1. Chánh kiến nhân quả, 2. Chánh kiến xuất ly, 3. Chánh Kiến Đại Thừa.

1. Chánh kiến nhân quả

      Tu Phật Pháp nói chung và tu Tịnh Độ nói riêng đều không rời "nhân quả". Nhân "tam quy ngũ giới", quả "phước báo nhân thiên", nhân 'tứ đế, duyên khởi", quả "thoát ly sinh tử", nhân "lục độ vạn hạnh", quả chánh đẳng chánh giác, nhân "tịnh nghiệp ba phước", quả vãng sinh Tịnh Độ.

      Vì vậy, người tu Tịnh Độ phải cần có tư lương "tín, nguyện, hạnh". Tín là "tín giải", tức tin và hiểu Chánh Pháp, để tránh bất tín, mê tín, si tín, cuồng tín! Vì vậy, người tu Tinh Độ cần phải học hiểu Chánh Pháp, mà không phải chỉ có lòng tin suông!

 

     Nếu Tịnh Độ chỉ nhờ lòng tin mà được vãng sinh, thì khác gì đức tin vào sự cứu rỗi của thượng đế, thần quyền, trái với nhân quả Phật giáo. Vì vậy xin đừng nghĩ rằng:

Tu lai rai Như Lai cũng rước,

Tu là đà Di Đà cũng tiếp dẫn!

     Hay có người bảo:

Tu về Tịnh Độ sướng hương tiên

Chẳng tốn công phu, chẳng mất tiền!

 

      Tu là phải hạ thủ công phu, tụng kinh, nghe Pháp, niệm Phật, lễ Phật..., sao lại "chẳng tốn công phu"? Đây là trái với nhân quả.

      Phước đầu tiên của Chánh nhân Tịnh Độ mà Kinh Vô Lượng Thọ nói là: (1) hiếu dưỡng cha mẹ, (2) phụng sự sư trưởng, (3) từ tâm bất sát, (4) tu mười thiện nghiệp. Phước này thông với "Chánh kiến thế gian", tin sâu nhân quả nghiệp báo trong đời. Đây là nói, người tu Tịnh Độ phải thực hiện lý tưởng giải thoát, giác ngộ của mình ngay trong đời sống hiện tại, tức xây dựng Tịnh Độ nhân gian. Sống hiếu thuận cha mẹ, tôn kính sư trưởng, tâm từ bi đối đãi với người và vật, tu mười thiện nghiệp là con đường chánh thông từ đạo đức phàm phu đến Phật quả.

2. Chánh kiến xuất ly

      Chánh kiến xuất ly là chánh kiến về giải thoát sinh tử khổ. Dù tu bất cứ pháp môn nào, mục đích cứu cánh đều là giải thoát sinh tử khổ. Tu Tịnh Độ cũng vậy. Người tu Tịnh Độ phải thâm thiết chiêm nghiệm nỗi khổ niềm đau của nhân sinh qua "Bốn Thánh đế", thấy được vô thường khổ; nguyên nhân khổ là vô minh và tham ái, con đường chấm dứt nhân khổ, được quả giải thoát là con đường tu giới-định-tuệ, không có con đường nào khác.

      Vì vậy, phước thứ hai trong tịnh nghiệp ba phước là: "(5) Thọ trì tam quy, (6) giữ tròn các giới, (7) không phạm oai nghi." Nhân giới sinh định, nhân định phát tuệ, nhân tuệ dứt sạch phiền não, được giải thoát. Cho nên, trong kinh nói đến giới đã bao gồm định và tuệ trong đó.

3. Chánh Kiến Đại Thừa

      Pháp môn Tịnh Độ là một trong những Pháp môn Đại Thừa, đặt trên nền tảng, tinh thần của Phật Pháp Đại Thừa. Thế nào là nền tảng và tinh thần của Phật Pháp Đại Thừa? Đó là "Phát Bồ-đề tâm", "hành Bồ-tát nguyện" và hướng đến cứu cánh thành Phật. Vì vậy, người tu Tịnh Độ phải tin hiểu Đại Thừa, phát Bồ-đề tâm và Bồ-tát nguyện mới không trái với tinh thần Đại Thừa của Pháp môn Tịnh Độ.

      Vì vậy, phước thứ ba của tịnh nghiệp vãng sinh Tịnh Độ là "( Phát Bồ-đề tâm, (9) tin sâu nhân quả, (10) đọc tụng Đại Thừa, (11) khuyến tấn hành giả."

      Bồ-đề tâm là tâm trên cầu thành Phật, dưới thệ dộ sinh, xuất phát từ tâm đại bi: "Không nỡ chúng sinh khổ, không nỡ Thánh giáo suy, khởi đại từ bi, niệm niệm thệ đi đường Bồ-tát." Vì vậy, người tu Tịnh Độ nếu không phát tâm Bồ-đề, không những không thể vãng sinh, mà cũng không thể thành Phật! Phát tâm Bồ-đề là nhân, thành tựu quả Phật là quả. Đây chính là "thâm tín nhân quả" mà Kinh Vô Thượng Thọ nói. Nếu không có phát tâm Bồ-đề, phát nguyện Bồ-tát, thì làm sao có chuyện: "Thừa nguyện tái lai" trong giáo nghĩa Tịnh Độ?

      Đọc tụng Đại Thừa là rộng đọc kinh điển Đại Thừa để tăng trưởng trí tuệ, xây dựng chánh kiến Tịnh Độ. Đức Phật không dạy chúng ta chỉ đọc Kinh A-di-đà, hay chỉ đọc Kinh Vô Lượng Thọ, mà đức Phật dạy chánh nhân tịnh nghiệp, vãng sinh Cực Lạc phải đọc tụng càng nhiều Kinh Điển Đại Thừa càng tốt! Xét ra, đệ tử Phật phải là "Đa văn Thánh đệ tử" mà không phải hạng "vô văn phàm phu"!

      Có người bảo: "Chỉ cần niệm một câu A-di-đà là bao gồm ba tạng kinh điển". Cũng có người bảo: "Chỉ cần tụng Kinh Vô Lượng Thọ là đủ." Thực ra, đây là lời nói đối trị cho một trường hợp, một căn cơ nào đó trong một hoàn cảnh đặc biệt, mà không phải là chân lý! Điều này giống như Tổ Triệu Châu bảo: "Niệm Phật một tiếng phải súc miệng bảy lần"! Đây cũng là lời đối trị mà không phải là chân lý! Người thiếu trí tuệ, không hiểu ý người xưa, chỉ "y ngữ bất y nghĩa", không thể "đắc ý vong ngôn" nên chấp thật lời nói này, rồi lặp lại như con két, khiến nhiều người sinh ra đủ loại tà kiến chấp trước!

      Vì vậy, có người tu Tịnh Độ thấy người khác học giới luật, học kinh điển, thọ trì đọc tụng các kinh điển khác, liền phán "tu tạp"! Thực ra, không có "tu tạp" chỉ có "tâm tạp"! Tâm vọng tưởng, chấp trước v.v... là "tâm tạp"! Chúng ta đọc kinh chính là đọc lại con người của mình, nhìn lại tâm hành của mình. Giống như người soi gương, nhìn vào gương để thấy lại mình, mà không phải để thấy gương. Cho nên, không thể cố chấp bảo: "Tôi chỉ soi mỗi cái gương này, còn soi những cái gương khác là "soi tạp"!" Người này đi đâu cũng vác kè kè theo cái gương của mình!

      Nếu thọ trì, đọc tụng kinh điển như soi gương, thì đọc càng nhiều càng tốt, có nhiều phương tiện và cơ hội thấy được "tâm tạp" và rửa sạch "tâm tạp" trần lao này của mình. Thực ra, nếu ai bảo người đọc nhiều kinh là "tu tạp" thì đó là người phỉ bàng đức Phật Thích-ca! Vì như vậy, không khác nào bảo đức Phật nói ra ba tạng kinh điển, tám muôn bốn ngàn pháp môn là "nói tạp" hay sao? Đó là người tự mình phỉ báng Chánh Pháp, lại còn lôi kéo nhiều người phỉ báng Chánh Pháp, cùng tạo nghiệp địa ngục! Đức Phật day trong Kinh Lăng Nghiêm: " Đời mạt pháp, một người mù dẫn theo đám mù" (nhất manh dẫn quần manh)", phải chăng là chỉ việc này?

     Điều cuối cùng của phước thứ ba là "khuyến tấn hành giả". Đây chính là hành Bồ-tát đạo, bố thí Pháp qua việc hoằng Pháp lợi sinh. Bồ-tát không phải chỉ phương tiện nương nhờ Tịnh độ tha phương của đức Phật A-di-đà để tu hành, mà còn phải xây dựng Tịnh Độ nhân gian, bây giờ và ở đây, kết duyên độ sinh qua Bồ-tát hạnh. Khi chúng ta thành Phật, thành tựu Tịnh Độ của mình, những chúng sính hữu duyên đời này sẽ sinh về nơi đó để hộ trì và cùng nhau giáo hòa chúng sinh.

     Tóm lại, ba phước là tư lương vãng sinh Tịnh Độ, là chánh nhân tịnh nghiệp của chư Phật trong ba đời mười phương. Ai muốn thực hành ba phước này để vãng sinh Cực Lạc phải là người có Chánh kiến Tịnh Độ: Tin sâu nhân quả, tu giới định tuệ, phát Bồ-đề tâm, tin hiểu Đại Thừa, hành Bồ-tát đạo. Rồi đem tất cả công đức này hồi hướng vãng sinh. Cây mọc nghiêng hướng nào, sẽ ngã về hướng đó! Sống tu tập ba phước, chết nhất định vãng sinh, nhân quả rõ ràng, hình ngay bóng thẳng.

      Đợi khi chứng được vô sinh pháp nhẫn, thành bậc Bồ-tát bất thoái, sẽ "thừa nguyện tái lai", theo Bồ-đề tâm, Bồ-tát nguyện xưa trở lại cõi này tiếp tục hành Bồ-tát đạo, lợi ích chúng sinh, trải qua ba đại a-tăng-kỳ kiếp mà không khác nào trong khoảng khảy móng tay. Khi đầy đủ phước đức, trí tuệ, tự nhiên viên thành Phật đạo, đầy đủ mười hiệu, viên mãn Bồ-đề tâm và Bồ-tát nguyện.

      Đây là chánh kiến Tịnh Độ; Đây tinh yếu Pháp môn; Đây là con đường vãng sinh một đời; Đây là con đường thành Phật cứu cánh.

      Nhân ngày tưởng niệm đức Phật A-di-đà theo truyền thống Phật giáo Đại Thừa Đông Á, xin ghi lại đôi điều tâm huyết để kết duyên lành cùng kẻ hữu duyên.

Nam-mô Pháp Giới Tạng Thân A-di-đà Phật.

Sa-môn Sakya Minh-Quang kính ghi

Ngày 06 tháng 01, 2026 tại Chùa Linh Sơn Dickinson, Texas

s513037892264040667_p18_i1_w233.jpeg

Copy right @ Thien Tuong Temple, 5037 W. 83 rd St. Burbank, IL 60459

        Facebook: Thien Tuong Temple; Tu Viện Thiện Tường; Email: tuvienthientuong@gmail.com;         

bottom of page