Lời Tự Pháp Hoa Kinh Hội Nghĩa
-Đại sư Ngẫu Ích, Trí Húc ở Cổ Ngô soạn thuật [1]
-Sa-môn Sakya Minh-Quang dịch, chú thích và giới thiệu
-Lời Giới Thiệu
Pháp Hoa Kinh Hội Nghĩa hay còn gọi là Pháp Hoa Kinh Thai Tông Hội Nghĩa, hay Pháp Hoa Hội Nghĩa là bộ chú giải Kinh Pháp Hoa của Đại sư Ngẫu Ích, một trong bốn vị Cao tăng cuối đời Minh. Đại sư Ngẫu Ích (1599-1655) Pháp danh Trí Húc, hiệu là Bát Bất Đạo Nhân.
Sư lúc tuổi thiếu niên chuyên tinh Nho học, vì bảo vệ Nho giáo đã viết bài đả kích Phật giáo. Năm mười bảy tuổi, nhờ đọc Trúc Song Tùy Bút và Tự Tri Lục của Đại sư Liên Trì, mới tỉnh ngộ chỗ sai lầm, liền đốt hết bài vở công kích Phật giáo. Sư hai mươi tuổi nhân đọc Kinh Địa Tạng liền có chí xuất gia. Ngưỡng mộ Đại sư Hám Sơn, nhưng vì đường xa không thể gặp được, nên năm 24 tuổi Sư xuống tóc xuất gia với ngài Tuyết Lãnh, đệ tử Đại sư Hám Sơn.
Sư thâm cứu Phật Pháp, dung thông tánh tướng hai nhà, thấu tỏ thiền lý, nhưng nhận thấy nhiều tệ nạn trong Thiền môn, nên hoằng dương giới luật, Tịnh độ và giáo nghĩa Tông Thiên Thai. Nhất là đối với giáo nghĩa Thiên Thai, Sư có kiến giải độc đáo riêng của mình. Sư trước tác, chú giải kinh luật luận rất nhiều, soạn phẩm Pháp Hoa Hội Nghĩa làm một trong số đó. Được biết, Sư viết soạn phẩm này lúc đã 51 tuổi (1649) tại Linh Phong, chỉ sáu năm trước lúc vãng sinh (1655). Như vậy, đây là soạn phẩm về Kinh Pháp Hoa nói riêng, về giáo nghĩa Thiên Thai nói chung khi tư tưởng của Sư đã thuần thục, nên vô cùng giá trị, đáng để nghiên cứu, học hỏi.

Bộ Pháp Hoa Hội Nghĩa bản chữ Hán cũng được khắc in ở Việt Nam. Một số bản Hán văn còn lưu lại ở một số Tổ đình ở Huế và miền trung nam bộ, nhưng chưa được phiên dịch ra Việt ngữ. Nay bút giả phiên dịch và chú thích bài tự (lời đầu sách) của bộ sách Pháp Hoa Hội Nghĩa này, để mọi người hiểu được duyên khởi của sách này qua lời trình bày của Đại sư Ngẫu Ích, cũng như thưởng thức một chút Pháp vị của Pháp Hoa Hội Nghĩa. Mong rằng bộ sách này sớm được dịch ra Việt ngữ để làm tài liệu nghiên cứu và tu học cho các học giả và hành giả trong và ngoài nước.
Sa-môn Sakya Minh Quang ghi ngày 18 tháng 04, 2026
-Lời Tự Pháp Hoa Kinh Hội Nghĩa
Có người hỏi Ngài Ngẫu Ích: “Tôi nghe nói, giảng Kinh Pháp Hoa không nhà nào giảng tốt như Tông Thiên Thai. Cho nên, Trí Giả Đại Sư sau khi diệu ngộ đã dùng bốn biện tài vô ngại không thể nghĩ bàn để tuyên nói hai bộ Pháp Hoa Huyền Nghĩa và Pháp Hoa Văn Cú.[2] Tôn giả Chương An章安 ghi lại, mỗi bộ có hai mươi quyển, không khác với sự kết tập [kinh điển] của A-nan.[3]
Đến đời Tôn giả Kinh Khê 荊溪 lại soạn Pháp Hoa Thích Tiêm để giúp [làm sáng nghĩa] bộ Pháp Hoa Huyền Nghĩa, và soạn Pháp Hoa Văn Cú Ký để giúp sáng nghĩa Pháp Hoa Văn Cú.[4] Nhờ đó, [tông chỉ] giáo quán của [tông Thiên Thai] được vô cùng sáng tỏ. Vì vậy, ngài Kinh Khê được xưng là “Liệt Tổ Trung Hưng” [tông Thiên Thai]. Những người y vào đó tu chứng, đắc đạo nhiều như rừng. Dù cho có Thánh nhân sau này xuất hiện, cũng không thể thêm vào đó một lời!
Có người hỏi Ngài Ngẫu Ích rằng: “Trước đây tôi từng thấy trong lời bạt trong Pháp Hoa Kinh Luân Quán, ngài ghi: “Ví như bài thơ “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu 崔灝 đủ khiến cho Lý Bạch phải gác bút.”[5] Tôi tin phục và ghi nhớ trong lòng những lời này. Thế nhưng, nay ngài lại vô cớ động bút [viết Hội Nghĩa], là tại sao?”
Ngẫu Ích này xin thưa: “Ôi! Đây là điều khổ tâm, vạn bất đắc dĩ của tôi! Gần đây, tôi ở Ôn Lăng 溫陵, trước thuật sách Pháp Hoa Luân Quán. Đây là muốn dụ dẫn tất cả người học trong thiên hạ đều để tâm tham cứu “tam đại bộ” của tông Thiên Thai.[6] Nay tính lại đã hơn mười năm rồi, tôi nói đến rách lưỡi mà người nghe như điếc, chưa từng khuyên được hai ba người chân chính theo sự nghiệp giáo quán. Đây là do vì giáo quán mênh mông, phức tạp, khiến người nhìn vào than thở như nhìn biển rộng không bờ! Nếu không có chút giản lược, thì các pháp viên đốn như Huyền Tiêm và Diệu Lạc… rốt cuộc sẽ chịu cảnh treo ở lầu cao, không ai ngó đến sao?”[7]
Hỏi: “Nếu như vậy, thì chỉ cần tiết lục (trích yếu) sách Văn Cú và Văn Cú Ký, như Diệu Huyền Tiết Yếu là được rồi.[8] Vì sao phải sửa khoa đổi văn (sửa lại cách phân khoa, thay đổi văn từ) , xen vào ý mình, đặt tên là Hội Nghĩa?”[9]
Đáp: “Đây càng là việc làm bất đắc dĩ! Xưa các nhà làm kinh sớ, chủ ý là sớ giải chỗ thâm áo của nghĩa kinh, phát huy không chán chỗ sâu xa, khiến nó vô cùng tường tận. Tuy nhiên, đối với chỗ hiển thị của văn kinh, lại phân khoa, chỉ điểm sơ qua mà thôi. Người sau miễn cưỡng muốn lấy sớ giải để hợp với kinh văn, bèn khiến cho câu cú của kinh văn bị chia cắt rời rạc. Nay muốn tùy theo văn mà diễn nghĩa, mà vẫn không làm tổn thương huyết mạch của kinh văn, thì việc phân khoa làm sao có thể không có chút sửa đổi?
Lại nữa, Đại sư Trí Giả dùng biện tài diễn bày, Chương An sau khi Đại sư thị tịch mới học A-nan kiết tập, tuy hoàn toàn hợp với nghĩa lý của Đại sư, nhưng chưa chắc một mực đều là văn của Đại sư. Cho nên, bút lực xưa cũ và phác thật, không có đẻo gọt, trau chuốt, chỉ có đọc lâu rồi mới biết chỗ tinh diệu của nó. Vì vậy, những người sơ phát tâm đối trước kinh quyển cảm thấy mờ mịt. Cho nên, văn làm sao có thể không hơi thay đổi?
Tôn giả Kinh Khê [chú giảng Pháp Hoa] là vàng ròng bách luyện, văn và nghĩa đều rất sâu xa, nhưng cũng hơi có phong khí của Lục Triều, không phù hợp lắm với thời cơ hiện nay. Còn như việc xiển dương ý chỉ ngoài lời nói của Đại sư, không phải là chỗ mà người chấp nê nơi văn tự có thể biết được, chẳng lẽ cũng là xen vào ý mình hay sao?[10] Ôi! Tạng Kinh Pháp Hoa sâu thẳm không cùng! Đại sư Trí Giả tuy có thể khế ngộ căn nguyên của nó, nhưng há có thể tuyên thuyết hết ngọn nguồn mọi việc? Tôn giả Chương An có thể ghi lại khái quát, nhưng đâu thể ghi hết [lời của Đại sư] một cách tường tận? Ngay cả Tôn giả Kinh Khê có thể xiển bày chỗ tinh yếu, nhưng cũng đâu thể phân tích hết chỗ khúc chiết?
Tôi là kẻ phàm ngu, ngàn lần suy nghĩ cũng có một lần đúng đắn. Vì để hợp với thời nghi, đâu thể sợ lời cơ hiềm là làm trái với người xưa, mà không đốc hết chút hiểu biết của mình, để trộm thêm vào việc phân khoa và nghĩa lý sao?
Như vậy, người biết tôi là do nơi Hội Nghĩa, mà người trách tội tôi cũng do nơi Hội Nghĩa!
Viết lời tự vào ngày mùng năm, trọng đông, năm Kỷ sửu. X32, no. 616, pp. 8c03-9a11
Sakya Minh-Quang dịch ngày 18 tháng 04, 2026
»»»**»»»»»»**»»»»»»**»»»»»»**»»»»»»**»»»»»»**»»»»»»**»»»»»»**»»»»»»**»»»
+Chú thích:
[1] Ngẫu ích 蕅益 (1599-1655) là Pháp tự, Pháp danh là Trí Húc 智旭, hiệu là Bát Bất Đạo nhân 八不道人, một trong bốn vị Cao tăng cuối đời Minh. Ngài tinh thông giáo nghĩa Thiên Thai, hoằng dương giới luật và Tịnh độ. Người sau tôn xưng ngài là tổ thứ chín của Liên Tông.
[2] Pháp Hoa Huyền Nghĩa 法華玄義 gồm 20 quyển, do Đại sư Trí Nghĩ 智顗 đời Tùy, núi Thiên Thai giảng ở chùa Ngọc Tuyền, tại Kinh Châu vào năm (593). Đệ tử của Đại sư là Quán Đảnh (Chương An) ghi lại. Tên đầy đủ là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa, còn gọi là Huyền Nghĩa, Diệu Huyền, là một trong “Pháp Hoa tam đại bộ”, tức ba bộ sách căn bản của Tông Thiên Thai.
Pháp Hoa Văn Cú 文句 gọi đủ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú 妙法蓮華經文句, gọi tắt là Pháp Hoa Kinh Văn Cú 法華經文句, Văn Cú 文句, Diệu Cú 妙句, là một trong “Pháp Hoa tam đại bộ”. Đây là do đệ tử Quán Đảnh ghi lại lời của Đại sư Trí Giải giảng tại chùa Quang Trạch ở Kim Lăng năm 687.
[3] Chương An 章安 (561-632) là người ở Chương An, Lâm Hải. Họ Ngô, Pháp tự là Pháp Vân, Pháp danh là Quán Đảnh, thường được gọi là Đại sư Chương An, hay Tôn giả Chương An.
[4] Kính Khê 荊溪 (711-782) là vị tổ thứ chín của Tông Thiên Thai. Ngài người Kinh Khê, Thường Châu, thường được gọi là Kinh Khê, Trạm Nhiên 湛然. Ngài ở chùa Diệu Lạc, Thường Châu giảng Kinh Pháp Hoa, hiệu là Đại sư Diệu Lạc. Vì vậy, soạn phẩm Pháp Hoa Văn Cú Ký của ngài được gọi là Diệu Lạc.
[5] Pháp Hoa Kinh Luân Quán 法華經綸貫, một soạn phẩm khác của ngài Trí Húc về Kinh Pháp Hoa.
[6] “Tam đại bộ” còn gọi là “Thiên Thai tam đại bộ” 天台三大部, “Pháp Hoa tam đại bộ” 法華三大部, “Tam đại chương sớ” 三大章疏. Đây là chỉ ba bộ sách căn bản của Tông Thiên Thai, đó là (1) Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú 妙法蓮華經文句, (2) Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa 妙法蓮華經玄義, (3) Ma-ha Chỉ Quán 摩訶止觀, mỗi bộ sách có mười quyển, do đệ tử của Đại sư Trí Giả là Quán Đảnh 灌頂, còn được xưng là Chương An 章安 ghi lại.
[7] Huyền Tiêm 玄籤, chỉ Pháp Hoa Huyền Nghĩa Thích Tiêm 法華玄義釋籤, gồm 20 quyển, Diệu Lạc 妙樂 chỉ Pháp Hoa Văn Cú Ký 法華文句記, gồm 30 quyển đều do ngài Trạm Nhiên 湛然 (711-782), còn gọi là Tôn giả Kinh Khê 荊溪 (tên địa danh), hay Đại sư Diệu Lạc (tên chùa), đời Đường, tổ thứ chín của tông Thiên Thai biên soạn.
[8] Diệu Huyền Tiết Yếu 妙玄節要là tên gọi tắt của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa Tiết Yếu 妙法蓮華經玄義節要, 2 quyển, do ngài Trí Húc soạn trước đó.
[9] Hội Nghĩa là nói tắt của sách Pháp Hoa Kinh Hội Nghĩa 法華經會義.
[10] Nguyên văn: “Tuần hàng sổ mặc” 循行數墨, là cách nói khác của thành ngữ “tầm hàng sổ mặc” 尋行數墨, nghĩa đen là “đọc sách tính theo bao nhiêu hàng, bao nhiêu chữ”. Đây là chỉ người chấp nê nơi câu chữ, mà không cầu việc quán thông nghĩa lý khi đọc sách.

