top of page

Lời Nhận Xét của Đại sư Hám Sơn về Đại Sư Liên Trì

-Lời giới thiệu

 

       Đại sư Liên Trì 蓮池 (1535-1616) và Đại sư Hám Sơn 憨山 (1564-1623) là hai trong bốn vị Đại Sư vĩ đại nhất cuối đời Minh (Minh mạt tứ Đại sư) được giới Phật giáo công nhận. Ngài Liên Trì có cống hiến vô cùng vĩ đại chẳng những đối với Phật giáo đương thời, mà còn ảnh hưởng đến Phật giáo đời nay; chẳng những đối với Phật giáo Trung Quốc mà còn đối với Phật giáo Việt Nam. Tuy Ngài ngộ thiền, thông giáo, nhưng cực lực đề xướng Pháp môn niệm Phật, được người sau tôn là Tổ thứ tám của Tịnh Độ Tông. Tuy nhiên, quan điểm Tịnh Độ Ngài của Ngài rất dung thông, kết hợp giữa thiền, giáo, luật, tịnh. Ngài bảo: "Thiền là tâm Phật, giáo là lời Phật, luật là hạnh Phật, Tịnh là cảnh Phật, vì vậy không nên bỏ một pháp nào." Hai thời công phu sáng tối hiện nay ở Trung Quốc và Việt Nam cũng có công đức hiệu đính, khắc in và truyền bá của Ngài.

       Bút giả nhân dạy môn "Giới Luật Căn Bản", dịch lại Sa-di Luật Nghi Yếu Lược do Ngài Liên Trì biên tập, nên cũng biên dịch tiểu sử của Ngài để giới thiệu với các Luật sinh. Qua biên dịch tiểu sử, bút giả đọc bài minh nói về công hạnh của Đại sư Liên Trì do Ngài Hám Sơn biên soạn khắc trên bia tháp. Nhận thấy những lời nhận xét, đánh giá của Đại sư Hám Sơn đối với cuộc đời và đạo nghiệp của Đại sư Liên Trì thật vô cùng sâu sắc và ý nghĩa, nên bút giả trích dịch ra đây để giới thiệu cùng đại chúng.

       Ngoài ra, bút giả cũng thêm lời bình của mình qua nhận xét này trước nhiều hiện tượng Phật giáo Việt Nam hiện nay. Mong rằng mượn ánh sáng trí tuệ của Tổ Sư, người con Phật xuất gia và tại gia chúng cùng soi lại nhận thức, thái độ và việc hành trì của mình trong đời sống tu học hằng ngày.

       Sakya Minh-Quang giới thiệu

-Lời nhận xét của Đại sư Hám Sơn về Đại Sư Liên Trì

      "Tổng kết về tiết tháo và hành trạng của Đại sư Liên Trì, tôi (ngài Hám Sơn) có thể nói như sau:

      Sư dùng tâm đại bi bình đẳng để nhiếp hóa tất cả mọi người. Sư chẳng phải lời Phật thì không nói, chẳng phải hạnh Phật thì không theo, chẳng phải việc Phật thì không làm. Đức Phật phó chúc vào đời mạt pháp, người hộ trì Chánh Pháp nên nương vào bốn hạnh an lạc. Sư thực sự đã có thể làm được như vậy!

      Xét ra, chư Tổ trước đây chỉ “đơn đề chánh lịnh” (chỉ chú trọng việc tham thiền khai ngộ), nhưng chưa chắc ai cũng có thể tu hết vạn hạnh. Nếu người ngay nơi vạn hạnh mà tỏ rõ nhất tâm, ở chốn trần lao mà thấy được Phật tánh, từ xưa đến nay, ngoài ngài Vĩnh Minh ra, chỉ duy nhất có Sư mà thôi!

      Các nhà Nho đời trước xưng Ngài Tịch Âm 寂音 là [sử gia] Ban Cố hay Tư Mã Thiên trong hàng Tăng. Tôi cũng cho rằng Đại sư Liên Trì là Chu Công hay Khổng tử trong Pháp môn! Sư có thể ngay nơi chỗ gánh vác Phật Pháp mà tùy duyên thuận đạo.

      Tài năng của Sư đủ để kinh bang tế thế; Chỗ ngộ của Sư đủ để truyền trao tâm ấn; Giáo hóa của Sư đủ để khế hợp các cơ; Đức hạnh của Sư đủ để hộ trì Chánh Pháp; Khí tiết của Sư đủ để khuyên dạy người đời; Quy cũ của Sư đủ để cứu vãn tệ bệnh đương thời. Còn như, tâm từ có thể cho vui, tâm bi có thể cứu khổ, vận dụng sáu độ một cách rộng rãi, thì không việc làm gì của Sư mà chẳng phải là diệu hạnh!

      Cả đời Sư từ thủy tới chung không có một điểm nào có thể dị nghị. Có thể nói, đây là toàn thể đại dụng của Phật trong Pháp môn. Nếu chẳng phải là bậc ứng thân đại sĩ, soi sáng bóng tối trong đời mạt pháp, thì làm sao có thể làm được đến mức như vậy?

(…)

      Sư luôn răn nhắc đệ tử phải quý chân tu, chớ bày vẻ linh dị, vì vậy nhiều việc linh dị không ghi ra. Ôi, tôi từng nghe rằng: Đức Thế Tôn và nghĩ đến chúng sinh khó độ nơi đời mạt pháp, sợ huệ mạng bị dứt mất, nên trên Pháp hội Linh Sơn tìm người bảo hộ Chánh Pháp. Cho dù là Bồ-tát được thọ ký, đức Phật cũng không nhận vào. Chỉ có chúng Bồ-tát “tùng địa dũng xuất”, từ dưới đất phóng lên, mới có thể đảm nhiệm.

      Lại nói: “Các vị là những người hộ trì kinh điển nơi đời mạt, cần phải có đầy đủ đại nhẫn lực, đại tinh tấn lực. Cho dù có hiện thân cõi này cũng không tự nói ra gốc gác của mình, tiết lộ nhân duyên thầm kính của Phật (Phật mật nhân)." Chỉ có khi ra đi là âm thầm để lại điều gì cho mọi người biết mà thôi.

      Xét việc làm của Sư, “tiềm thần mật dụng”, sức an nhẫn và tinh tấn, Sư chẳng phải là một trong những vị Bồ-tát “tùng địa dũng xuất” sao? Sư chẳng phải là người từ cõi Tịnh Độ mà đến cõi này sao? Nếu chẳng phải vậy, ở địa vị phàm phu làm việc tự lợi còn chưa đủ sức, sao lại có thể như Sư làm hạnh Bồ-tát rộng lớn, lợi ích ngươi khác, hộ trì Chánh Pháp, trước sau không có khiếm khuyết?

      Tôi từ cảm xúc chân thật nơi mình, góp nhặt sơ lược những công hạnh của Sư ghi ra, để làm gương cho hàng hậu thế."

      Sakya Minh-Quang dịch từ "Cổ Hàng Văn Thê Liên Trì Đại Sư Bi Tháp Minh" 古杭雲棲蓮池大師塔銘 biên soạn bởi Hám Sơn Đại sư

-Lời bình:

      Đức Phật trước khi nhập niết-bàn, căn dặn đệ tử Phật không được "hiển dị hoặc chúng", hay bày tỏ sự linh dị để mê hoặc quần chúng (Kinh Di Giáo). Các Tổ cũng dạy: "Bình thường tâm thị đạo". Vì vậy, theo truyền thống Phật Pháp Đại Thừa Đông Á, những vị Tổ sư Bồ-tát đều không cho mình là Thánh giả tái sinh, là Bồ-tát thị hiện v.v.... Vì vậy, trong truyền thống Phật giáo Việt Nam từ hai ngàn năm, không bao giờ có danh xưng Phật sống hay Pháp Vương v.v.... Ngược lại, nếu có ai tự xưng mình chứng Thánh, là Bồ-tát, là Phật tái lai v.v... một là hàng tăng thượng mạn, hai là phạm đại vọng ngữ, dùng tôn giáo lừa gạt lòng tin chúng sinh, phạm một trong bốn trọng tội ba-la-di, theo luật bị mặc tẩn, đuổi ra khỏi Tăng đoàn!

      Đại sư Hám Sơn nhận xét về Đại sư Liên Trì: "Sư tài năng đủ để kinh bang tế thế; Sư khai ngộ đủ để truyền trao tâm ấn; Sư giáo hóa đủ để khế hợp các cơ; Sư đức hạnh đủ để hộ trì Chánh Pháp; Sư khí tiết đủ để khuyên dạy người đời; Sư quy cũ đủ để cứu vãn tệ bệnh đương thời." Thế nhưng, nhìn lại cuộc đời của Ngài, chúng ta thấy Đại Sư Liên Trì sống rất bình phàm, cũng như răn dạy, không cho đệ tử coi trọng việc linh dị.

Ngài trực tâm, nghiêm khắc trong giới luật, nhưng từ bi bao dung trong hành xử. Ngài tinh tấn, chân thật tu hành, nhưng khiêm cung, không bao giờ tỏ ra mình là thần thánh. Tuy nhiên, chính "tâm bình thường là đạo" trong cuộc sống tu hành đó, đã làm sáng tỏ giá trị trí tuệ, từ bi, nhẫn nại, và thệ nguyện rộng lờn không thể nghĩ bàn của Đại sư Liên Trì.

      Vì vậy, Đại sư Hám Sơn nhận xét Đại sư Liên Trì là một vị Bồ-tát tái lai, từ cõi Tinh Độ theo nguyện lực trở lại độ chúng sinh nơi cõi Ta-bà. Ngài Hám Sơn viết: "Cho dù [là Bồ-tát] có hiện thân cõi này cũng không tự nói ra gốc gác của mình, tiết lộ nhân duyên thầm kính của Phật (Phật mật nhân). Chỉ có khi ra đi là âm thầm để lại điều gì đó cho mọi người biết mà thôi."

      "Chỉ có khi ra đi là âm thầm để lại điều gì đó cho mọi người biết mà thôi". Có phải chăng đây là chỉ chuyện Hàn Sơn, Thập Đắc là hóa thân của Bồ-tát Văn-thù, Bồ-tát Phổ Hiền, còn Bố-đại Hòa Thượng là hóa thân của Bồ-tát Di-lặc. Người ta chỉ biết Hòa Thượng Bố-đại là Bồ-tát Di-lặc khi Ngài đã ra đi, qua bài kệ để lại:

Di-lặc chân Di-lặc

Hóa thân thiên bách ức

Thời thời thị thời nhân

Thời nhân tự bất thức.

Nghĩa:

Di-lặc thị hiện trong đời

Hóa thân ngàn ức làm người xung quanh

Hằng ngày khai thị chúng sanh

Người đời mê muội lại sanh coi thường!

(Sakya Minh-Quang dịch)

      Đó là lý do trong Phật giáo Việt Nam không coi trọng việc tìm kiếm sự tái sinh của Cao Tăng, không đề cao chủ nghĩa thần thánh cá nhân, không có Phật sống, Pháp Vương. Chúng ta phải khẳng định mình có sẵn tánh Phật, hãy tin nhận và quay trở lại nơi mình để nhận lấy. Xin đừng hướng ngoại tìm cầu! "

Ngoài tâm cầu đạo đó là ngoại đạo!

 

Nam-mô Lịch Đại Tổ Sư Bồ-tát Ma-ha-tát

Sa-môn Sakya Minh-Quang kính ghi

 

Luật viện Huệ Nghiêm, ngày 04 tháng 04, 2026.

Copy right @ Thien Tuong Temple, 5037 W. 83 rd St. Burbank, IL 60459

        Facebook: Thien Tuong Temple; Tu Viện Thiện Tường; Email: tuvienthientuong@gmail.com;         

bottom of page