Bổn Phận Sơ Tâm Xuất Gia
Xuất gia không phải là chán đời, lánh việc, tìm chỗ an nhàn, có cơm ăn áo mặc qua ngày. Xuất gia cũng không phải vì được tín đồ cung kính, tôn trọng qua hình tướng trang nghiêm của trưởng tử của Như Lai. Thật ra, xuất gia là vì mục đích giải thoát, lý tưởng hoằng Pháp lợi sinh, và sứ mạng kế tục mạng mạch của Phật Pháp. Đây là điều mà người xưa gọi: “Đại Phật tuyên dương Chánh Pháp, truyền đăng tục diệm, kế vãng khai lai”. Có nghĩa: “Thay Phật hoằng dương Chánh Pháp, truyền đèn nối lửa, kế thừa tiền nhân, mở mang lớp sau.”
Để thực hiện được mục đính và lý tưởng này, người xuất gia phải cắt đứt ân ái, từ giã người thân, sống đời thiểu dục tri túc, nhẫn nại khó khổ với việc tùng lâm và nhẫn nhục, hòa nhu với huynh đệ và mọi người. Ngoài ra, người xuất gia còn phải thức khuya dậy sớm, siêng năng công phu công quả, học hỏi kinh luật để có thể trở thành Tăng tài Pháp khí, đảm đương Phật Pháp. Đây chính là bổn phận của người xuất gia.
Muốn làm tròn bổn phận này, người xuất gia phải có lý tưởng đủ lớn để thường xuyên tự khích lệ mình, cũng như phải có nghị lực và quyết tâm đủ mạnh để không thoái thất giữa đường. Đối với những người chưa hiểu rõ hay chuẩn bị kỹ, thật tế xuất gia đôi khi rất nghiệt ngã và khác xa so với với những gì mình tưởng tượng khi đứng bên ngoài nhìn vào. Cho nên người xưa nói: “Nếu chẳng một phen xương lạnh thấu, hoa mai đâu dễ thưởng mùi hương?”

Vì vậy trong tòng lâm, thường có thời kỳ “tập sự xuất gia” hay “hành điệu” để thầy xem xét tâm tánh, cũng như kiểm tra sơ phát tâm của đệ tử xem có thích hợp hay không. Thời kỳ này ngắn hay dài tùy theo căn cơ và hoàn cảnh của đệ tử.
Ba bổn phận chính của người sơ tâm xuất gia
Kinh Hiền Ngu nói đến ba bổn phận chính yếu của người xuất gia. Đó là: (1) Học tập kinh điển, (2) tọa thiền tu tập, (3) làm việc trong chúng. Nếu người nào không làm được ba việc này thì không thể xuất gia!
1. Học tập kinh điển: Học tập kinh điển giúp người xuất gia hiểu biết, cho đến thâm nhập Phật Pháp và giới luật. Tu hành phải lấy chánh kiến làm đầu để tránh rơi vào mê tín, tà kiến, lỡ mình hại người. Lại nữa, đệ tử Phật phải lấy trí tuệ làm phương tiện để chặt đứt phiền não và lợi lạc chúng sinh. Nếu không học tập kinh điển, tìm hiểu giới luật thì làm sao có thể có chánh tri kiến và trí tuệ? Đây cũng chính là điều thứ ba Kinh Bát Đại Nhân Giác nói:
Bậc Bồ-tát vô cầu, biết đủ
Vui phận nghèo, quy cũ tu hành
Trao dồi tuệ nghiệp lợi sanh
Vung gươm trí tuệ, dứt mành vô minh.
Đây là phần tự giác của học tập kinh điển, thành tựu chánh kiến, trí tuệ, để có thể dứt trừ vô minh phiền não, hoàn thành mục đích giải thoát của pháp xuất gia. Ngoài ra, học tập kinh điển còn giúp cho việc hoằng Pháp lợi sinh sau này. Người xuất gia là trưởng tử của Như Lai, phải "quyền huynh thế phụ", thay Phật hoằng Pháp lợi sinh. Cho nên việc học tập kinh luật luận vô cùng quan trọng. Điều giác ngộ thứ năm trong Kinh Bát Đại Nhân Giác nói:
Bồ-tát phát nguyện tu hành
Nghe nhiều, học rộng Pháp lành Như Lai
Để tăng trưởng gia tài trí tuệ
Và tựu thành xuất thế biện tài
Giảng kinh giáo hóa muôn loài
Cho niềm vui lớn, cùng ngồi tòa sen.
2. Tọa thiền tu tập: Thiền có gốc chữ Phạn là thiền-na (dhyana), gọi tắt thiền, dịch nghĩa là “tư duy tu”, tức tu tập qua tư duy quán chiếu. Cho nên, trong kinh còn gọi là “thiền tư”. Song tư duy thiền là tư duy tương ưng với nhiếp tâm hay định tâm và tùy thuận Pháp. Nói nhiếp tâm hay định tâm là tâm không tán loạn, tập trung vào đề mục thiền quán của mình như vô thường, khổ, không, vô ngã, duyên khởi v.v…. Nói tùy thuận Pháp là tư duy quán chiếu phù hợp với Chánh Pháp như sự thật về vô thường, khổ, không, vô ngã, duyên khởi v.v….
Tu học là con đường huấn luyện ba loại trí tuệ 1. Văn tuệ: Trí tuệ do nghe Pháp, học tập kinh điển mà thành tựu. 2. Tư tuệ: Trí tuệ do tư duy, chiêm nghiệm Pháp nghĩa mà thành tựu. 3. Tu tuệ: Trí tuệ do quán chiếu lại tự thân để điều chỉnh đúng theo Chánh Pháp. Như vậy, học tập kinh điển là phát triển về “văn tuệ” và “tư tuệ”, nền tảng cho “tu tuệ”, tức thiền quán.
Nhờ “tu tuệ” tức trí tuệ do tu thành tựu mới có thể dứt trừ phiền não vi tế, thật sự được giải thoát, giác ngộ. Tuy nhiên, nếu không có nền tảng “văn tuệ” và tư tuệ vững chắc, hành giả dễ rơi vào thiên chấp, cực đoan, thậm chí đưa đến tà kiến, tà giải! Vì vậy, ba loại trí tuệ này hỗ tương, trợ giúp lẫn nhau và đồng bộ thực hiện.
Tuy Pháp môn tu học tùy theo căn cơ mà có nhiều cách khác như niệm Phật, tụng kinh, trì chú v.v…, nhưng đều lấy nguyên tắc thiền là nhiếp tâm và quán chiếu làm căn bản.
3. Làm việc chúng: Người sơ tâm xuất gia phải nỗ lực công quả để vun bồi phước đức, làm nền tảng cho đường tu dài lâu của mình. Làm việc chúng cũng giúp cho mình bỏ đi tập khí tham nhàn trộm an, biết sống hy sinh vì lợi ích của chùa chiền và đại chúng.
Lại nữa, một trong làm việc chúng có một việc rất quan trọng đó là “hầu thầy”, được đặc biệt nhắc đến trong oai nghi và cảnh sách của người xuất gia. Ví dụ, Thiền sư Từ Thọ trong Huấn Đồng Hành, tức “bài hành huấn thị cho những người tập sự xuất gia”, nói:
Hầu thầy: phận đệ tử xuất gia
Như con hiếu thảo đối mẹ cha
Thêm hương, thay nước nên siêng gắng
Trời rồng luôn dõi mắt theo ta.
Một việc khác cũng rất quan trọng đối với người xuất gia là “làm bếp”! Nhà bếp là nơi rất nhọc mệt và “nóng bức”, vì vậy những người công quả làm bếp rất dễ sinh khởi phiền não vì có nhiều va chạm. Tuy nhiên, nếu có thể nhẫn nại, hoan hỷ, xả ngã để phục vụ thì công đức làm bếp cũng lớn nhất! Nhiều vị Tôn đức ngộ đạo ngày xưa cũng ẩn mình công quả trong nhà bếp, như Lục Tổ Huệ Năng. Cho nên Thiền sư Từ Thọ bảo:
Hương Tích nhà trù khéo dụng tâm
Là nơi long tượng ẩn tòng lâm
Thức khuya dậy sớm tuy lao khổ
Tin chắc nhân thâm quả cũng thâm.
Bùi Hưu 裴休 (791-864) là Tể tướng đời Đường, hiệu là Hà Đông Đại Sĩ, một vị Đại Cư Sĩ ngộ đạo, lúc lớn tuổi trường trai tuyệt dục, thân tại gia mà tâm xuất gia, ông đắc Pháp với Ngài Hoàng Bích Hy Vận黃蘗希運 (?-850). Ông có người con tên là Bùi Văn Đức, thi đậu trạng nguyên. Nhưng thay vì muốn con ra làm quan, lấy vợ sinh con, nối dõi tông đường, Bùi Hưu khuyên con xuất gia. Nghe nói, Bùi Văn Đức xuất gia sau trở thành một vị Cao tăng có Pháp danh là Pháp Hải. Với tư cách là người cha hiểu đạo, Bùi Hưu đã làm bài cảnh sách, nhắc nhở con mình bổn phạn xuất gia như sau:
Con xuất gia
Phải lập chí
Tìm Thầy học Đạo chẳng dễ chi
Tha thiết một lòng cầu khai thị!
Thắp hương, thay nước phải ân cần
Điện Phật, phòng tăng luôn chăm chỉ.
Đừng ham chơi
Chớ đùa nghịch
Đi thưa về trình theo đúng lịch.
Đã xuất gia
Chớ về nhà
Diệu Pháp không nghe Đạo cách xa.
Kính sư huynh
Nhắc sư đệ
Sống trong cửa thiền tình huynh đệ.
Trên kính dưới nhường, phải khiêm hòa
Đừng khinh người khác, không cậy thế
Cơm áo quý
Được dễ chi
Biết đủ, không cầu ngon đẹp dị.
Cơm rau đạm bạc sống qua ngày
Áo quần đơn giản tùy cúng thí.
Vinh hoa, áo gấm chết liệm thi!
Hiểu Đạo, vàng ròng có gì quý?
Rõ tam không
Thông tứ trí
Thập địa chứng quả quyết lập chí.
Lễ Quán Âm
Trì Thế Chí
Người ngủ, mình tu không tham nghỉ.
Canh ba nằm ngủ, thức canh năm
Bước lên điên Phật tu mới quý!
Thắp đèn sáng
Thay nước sạch
Lễ bái Như Lai khai mở trí
Đáp đền cha mẹ dưỡng dục ân
Trời rồng tám bộ đều hoan hỷ.
(Sakya Minh-Quang dịch)
Ngài Đạo An đã tóm tắt bổn phận này qua lời răn dạy đệ tử như sau:
Ông đã xuất gia
Tối hoặc thông minh
Học dù nhiều ít
Hạnh gắng chuyên tinh.
Bậc thượng thiền quán
Bậc trung tụng kinh
Bậc hạ tu phước
Chùa tháp kinh dinh.
Đâu nên hôm sớm
Một việc không thành
Xuất gia như thế
Luống uổng kiếp sinh.
Nay lời khuyên nhắc
Chớ phụ lấy mình!
(HT. Thích Thiền Tâm dịch)
Tóm lại, bổn phận người sơ tâm xuất gia có ba việc chính là (1) học tập kinh điển, (2) tu tập tọa thiền, tụng kinh, niệm Phật…, (3) công quả, làm việc chúng. Nay bút giả xin mượn lại lời của đức Phật và chư Tổ để tự nhắc mình không quên sơ tâm xuất gia, cũng chia sẻ với những ai hữu duyên trong cùng lý tưởng giải thoát.
Nam-mô Hoan Hỷ Tạng Bồ-tát Ma-ha-tát
Sakya Minh-Quang viết và hiệu đính lại Luật Viện Huệ Nghiêm, ngày 03 tháng 04, 2026

