Kho Báu Vô Tận

I. Mở đề 


          Đất trời kho báu của chung
          Bấy lâu sao mãi bần cùng uổng oan?
          Ngày xuân hoa đẹp khắp non
          Đêm thu gió mát trăng tròn riêng ai?
          Thở vào, hương thoảng đào mai
          Thở ra, ngắm ánh trăng lay bên cầu
          Đây nguồn hạnh phúc nhiệm mầu
          Giàu vui nào phải tìm cầu đâu xa!
          Thở vào, nhẹ nhõm thở ra  
          Có vào, hạnh phúc cho ra mọi người
          Giàu nhờ kho báu đất trời
          Lấy dùng vô tận, ai người cấm ngăn?
          Vui vì sống có thiện căn
          Biết chia sẻ những khó khăn với người
          Trăng trong, gió mát, hoa tươi...
          Một kho vô tận xin người lấy cho!

                      Sakya Minh-Quang

images (34).jpg

II. Nhỏ Nhoi Của Kiếp Người
        Khi bị lưu đày ở Hoàng Châu, vào đêm trăng rằm tháng bảy, Tô Đông Pha cùng bạn chèo thuyền ngắm trăng dạo chơi dưới chân núi Xích Bích. Đang lúc đàn hát vui vẻ, có một vị khách thổi lên một khúc tiêu ai oán. Tô Đông Pha hỏi lý do. Vị khách này giải thích vì tức cảnh sinh tình, chèo thuyền bên dưới ngọn núi Xích Bích nên nhớ lại trận chiến Xích Bích năm xưa, nơi Chu Du đã dùng hỏa công phá tan đội quân hùng mạnh của Tào Tháo. Anh hùng một thuở như Tào Tháo mà nay có còn đâu? Rồi vị khách lại nói: "Huống chi tôi và ông chỉ là kẻ câu cá đốn củi bên sông, làm bạn cùng hưu nai tôm cá, chèo một chiếc thuyền con, mời nhau chỉ một bầu rượu, gởi kiếp phù du nơi trời đất, như hạt thóc bé giữa vô cùng. Tôi buồn vì sinh mệnh sao ngắn ngủi, lại hâm mộ con sông dài chảy vô cùng! [Ước gì,] được cùng tiên phi hành để ngao du, ôm trăng sáng mà sống mãi. Biết rằng mình không thể làm được như vậy, nên gởi tấm lòng tiếc hận này vào tiếng gió buồn thương" (Tiền Xích Bích Phú, Sakya Minh-Quang dịch).


        Như vậy, nỗi khổ niềm đau của vị khách cũng là nỗi niềm của chúng sinh với thân phận nhỏ nhoi trong cõi đời vô thường ngắn ngủi. Lý Bạch cũng từng chia sẻ nhân sinh quan tương tự:


                           Anh thấy chăng?
                           Hoàng hà nước tự trời cao
                           Trôi ra biển cả chẳng bao giờ về
                           Anh thấy chăng?
                           Cha soi kính tóc bạc phơ
                           Sớm tơ, tối tuyết, ngẫn ngơ chợt buồn!

                                 (Tương Tiến Tửu-Sakya Minh-Quang dịch)

         Hay Trần Tử Ngang lại càng trực tiếp hơn:
                   

                           Trước: chẳng thấy người xưa
                           Sau: không gặp ai đến
                           Ngẫm trời đất mênh mông
                           Riêng đau lòng rơi lệ

                                 (Đăng Cao-Sakya Minh-Quang dịch)

         Nỗi buồn của Lý Bạch, dòng lệ của Trần Tử Ngang cùng đồng điệu với tiếng lòng thê thiết của vị khách dạo chơi nơi dòng sông dưới chân núi Xích Bích thuở nào. Nhân sinh quan về vô thường này tuy không sai, nhưng chưa minh triết và thấu đáo.

III. Đạt Quan: Dòng Sinh Mệnh Vô Cùng, Người Vật Không Hai
        Trước sự bi thương của bạn, Tô Đông Pha đã có một cái nhìn khác khi an ủi và thức tỉnh vị khách chung thuyền qua đoạn văn trong Tiền Xích Bích Phú: 
        "Bạn có biết về dòng sông và ánh trăng chăng? Dòng sông tuy trôi qua mãi như thế mà chưa từng đi, ánh trăng tuy tròn khuyết như vậy mà rốt cuộc không có thêm bớt. Bởi vì, nhìn từ góc độ biến hóa thì trời đất không thể không thay đổi dù chỉ trong một chớp mắt; còn nhìn từ góc độ bất biến, thì vật và ta đều vô cùng, cần gì phải hâm mộ? Lại nữa, trong cõi trời đất vạn vật đều có chủ, nếu không phải cái mình có, ta cũng không lấy dù chỉ mảy may. Còn như, gió mát trên sông, trăng sáng lưng núi, tai chạm đến thành tiếng, mắt bắt gặp thành sắc, nếu lấy không ai ngăn cấm, nếu dùng không bao giờ hết. Cho nên, trời đất chính là kho vô tận. Đây là cái mà tôi cùng với bạn thỏa thích lấy dùng."
Nghe xong, vị khách chừng như tỉnh ngộ, vui vẻ trở lại.
         Vị khách trên thuyền có thể là hư cấu, Tô Đông Pha mượn hình ảnh đó để nói lên sự xung đột nội tâm của mình. Trong nốt trầm trên đường hoạn lộ, bị giam vào tử ngục, rồi sau đó bị lưu đày ở chốn hoang dã Hoàng Châu, có lẽ nhiều lúc Tô Đông Pha đã chán nãn, buồn đau trước cuộc đời thăng trầm, vinh nhục và đầy dẫy sự bất công. Chính vì tài hoa xuất chúng, thơ văn xuất cách, nên Tô Đông Pha được nhiều người hâm mộ nhưng cũng không ít người đố tài, ganh tỵ. Lại thêm, ông cá tính ngay thẳng, không chịu xu phụ quyền quý, “không hợp thời nghi” đã đụng chạm đến quyền lợi của những kẻ đương quyền, khiến một đời lao đao lận đận.

        Nhưng có lẽ, nhờ những trải nghiệm khổ đau đó, Tô Đông Pha càng gần Phật giáo hơn. Qua chiêm nghiệm Phật lý,Tô Đông Pha đã có được một nhân sinh quan sâu sắc. Nhờ nhân sinh quan sâu sắc này, những tác phẩm sáng tác thời lưu đày ở Hoàng Châu, nhiều bài đã trở thành tuyệt tác, mà bài Tiền Xích Bích Phú là một ví dụ điển hình. Trong bài phú này, Tô Đông Pha đã an ủi cho vị khách chung thuyền, mà đúng hơn là tự nhắc nhở mình: “Dòng sông tuy trôi qua mãi như thế mà chưa từng đi, ánh trăng tuy tròn khuyết như vậy mà rốt cuộc không có thêm bớt. Bởi vì, nhìn từ góc độ biến hóa thì trời đất không thể không thay đổi dù chỉ trong một chớp mắt; còn nhìn từ góc độ bất biến, thì vật và ta đều vô cùng, cần gì phải hâm mộ?” 
        Thái độ nhìn đời của Phật giáo không phải bi quan, hay lạc quan, mà là đạt quan. Bi quan là nhìn đời qua cặp kính đen, thấy cái gì cũng tiêu cực, tăm tối. Lạc quan là nhìn đời qua cặp kính hồng, tự mình tô màu cho cuộc sống, để khi đối diện thực tế lại không đủ năng lực để đối phó trước bao nghịch cảnh. Giáo dục Phật giáo trước hết giúp hành giả giác ngộ đời vô thường, tức nhìn đời từ góc độ biến đổi, để biết thức tỉnh buông bỏ lợi danh, tình chấp. Muốn được như vậy, không những chỉ có “vô thường quan”, tức nhân sinh quan về vô thường, mà còn cần phải có “vô thường quán”, công phu quán chiếu sâu sắc để dứt trừ thói quen tình chấp. Sau đó, hành giả phải quán chiếu sâu sắc hơn để nhận ra pháp tính bất sinh bất diệt nơi vô thường sinh diệt, vượt qua kiến chấp thường đoạn nhị nguyên, và nhìn đời với tri kiến "như thị". Cái nhìn này được gọi là đạt quan. 
       Xưa có một vị tăng đọc Kinh Pháp Hoa, đến câu: 
                           Các pháp từ xưa nay,
                           Tướng thường tự tịch diệt
                             (Chư pháp tùng bản lai, thường tự tịch diệt tướng). 

       Ông khởi nghi ngờ, tại sao các pháp rõ ràng vô thường sinh diệt mà Phật lại bảo là “thường tự tịch diệt”? Ôm mối nghi này như một công án tham cứu, vào một buổi sáng mùa xuân, khi đang ngồi ngắm hoa trước tịnh thất, chợt nghe chim hót trên nhành dương, ông liền ngộ ra chân thật nghĩa mà ý Phật muốn nói. Ông liền thêm hai câu vào hai câu kinh trên để làm nên bài kệ bốn câu:


                           Các pháp từ xưa nay
                           Tướng thường tự vắng lặng
                           Xuân đến trăm hoa nở
                           Hoàng oanh hót trên cành!
                              (Cảnh Đức Truyền Đăng Lục)

        Thì ra, vị tăng đã một bước nhảy vượt khái niệm nhị nguyên: có không, sinh diệt, động tĩnh, thường đoạn, để nhận ra pháp nhĩ như thị với như thị tri kiến: sinh tử niết-bàn vốn không hai. 
        “Các pháp thường tự vắng lặng”. Tự vắng lặng chính là tự tính không (Śūnyatā) của các pháp. Cho nên, nói các pháp không, không phải là không có, mà là không thật có vì không có tự tính. Cho nên, nói khác đi, các pháp duyên khởi chính là tánh không và tánh không chính là duyên khởi. Đây chính là thật tướng của các pháp. Vì vậy, các pháp vẫn thường tịch diệt dù xuân về chim hót hoa cười (duyên khởi), hay thu sang lá vàng rơi rụng. Như vậy, bất sinh bất diệt ngay nơi sinh diệt, sinh tử và niết-bàn không hai, bởi vì các pháp thường tự tịch diệt. Trong Triệu Luận, Tăng Triệu cũng có bài kệ nói lên ý này:


                           Gió thổi bay núi mà thường tịnh
                           Nước sông đổ gấp mà không trôi
                           Bụi trần lăng xăng mà chẳng động
                           Mây qua bầu trời mà chẳng đi!

        Cho nên, trong bài kệ Lục Như của Kinh Kim Cương Bát-nhã, đức Phật dạy hành giả quán chiếu các pháp hữu vi không thật, như mộng huyễn bào ảnh… để vượt qua giới hạn nhận thức giả tướng thường nghiệm, và chứng ngộ cảnh giới thật tướng bất sinh bất diệt này:
                         

                           Tất cả pháp hữu vi
                           Như mộng, huyễn, bọt, bóng
                           Như sương sớm, điện chớp 
                           Nên quán chiếu như vậy. 
                           (Nhất thiết hữu vi pháp
                           Như mộng, huyễn, bào, ảnh
                           Như lộ, diệc như điện
                           Ưng tác như thị quán).

Dựa vào ý Kinh Kim Cương trên, bút giả đã viết bài kệ tọa thiền buổi sáng sử dụng tại Tu Viện Thiện Tường:
                           

                           Canh năm thức tỉnh tọa thiền
                           Tinh thần đề khởi, trang nghiêm tu trì
                           Quán sâu các pháp hữu vi

                           Như mộng, như huyễn, khác gì sương mai
                           Bóng trăng, bọt nước không sai
                           Lại như điện chớp chợt bay ngang trời!
                           Tánh không quán chiếu không ngơi
                           Kim Cương Phật nhãn nhìn đời như như!
                           Đại chúng xin hãy thiền tư
                           Một phen thể nghiệm chân như niết-bàn!

“Kim Cương Phật nhãn nhìn đời như như” là cái nhìn đạt quan của Phật giáo, tức nhìn đời đúng như nó là (see things as they really are). Thật tướng bát-nhã này là kết quả của quá trình quán chiếu bát-nhã: “Tánh không quán chiếu không ngơi”. Nhìn đời được như vậy, hành giả mới thực sự an lạc hạnh phúc, ung dung tự tại trong cõi đời vô thường. Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng bảo: "Đạt quan trước sống chết chừ, nhàn vậy thôi!" (Sinh tử đạt quan hề, nhàn nhi dĩ). Cho nên, nếu nhận ra thật tướng của các pháp là tánh không, hay tướng thường tịch diệt, thì mình và vật không khác, đều cùng trong thể tánh bất sinh bất diệt, dòng sinh mệnh vô lượng thọ, vô lượng quang, thì cần chi phải bỏ mình theo vật, hâm mộ trường sinh bất tử của phi tiên? Đây cũng chính là ý của Tô Đông Pha trong đoạn văn trên.

IV. Người Đạt Quan Là Người Biết Đủ
         Lại nữa, người đạt quan không chỉ an vui mà còn giàu có. Trước hết, họ giàu có vì biết đủ. Biết đủ tức là biết nhận ra những gì mình đang có, biết trân quý và khéo hưởng dụng nó. Có ai nhận ra mình đang thở một cách thoải mái không? Đây là một niềm hạnh phúc mà chúng ta đang hưởng thụ từng phút giây trong cuộc sống hằng ngày. Hơi thở quan trọng vậy mà nhiều khi mình không ý thức được niềm hạnh phúc này. Thử nghĩ xem, khi chúng ta nghẹt mũi hay bị lên cơn hen suyễn, sự khó thở sẽ gây ra khổ sở như thế nào? Đây là lúc bình thời, còn trước giây phút lâm chung lại càng cho thấy sự trọng yếu của hơi thở. Đối diện cái chết, hơi thở yếu ớt đứt đoạn, máy trợ thở và đủ mọi dây nhợ dụng cụ y khoa hỗ trợ người hấp hối, thực ra cũng chỉ vì để duy trì một hơi thở này mà thôi!
        Vì vậy, biết đủ không phải là tiêu cực, an phận, không chịu cầu tiến như nhiều người thường lầm nhận. Thực ra, biết đủ chính là trí tuệ và bản lĩnh. Trí tuệ là thấy được những gì mình đang có và bản lĩnh vì có khả năng nhận diện và sống hạnh phúc với của báu trong ta. Có biết quý trọng và hưởng dụng những gì mình đang có, mới có đủ trí tuệ và năng lực để truy cầu những cái lớn lao và có ý nghĩa hơn. Còn buông hình bắt bóng, không trân quý những gì đang có, chỉ truy cầu những điều xa vời, đó là người tham lam, thiếu trí tuệ. Cho nên, đức Phật dạy: "Nếu muốn thoát khổ não nên quán xét biết đủ. Biết đủ là an vui và giàu có bậc nhất. Người biết đủ tuy nằm trên đất cũng an vui, người mà không biết đủ dù ở nơi thiên đường, cũng không thấy vừa ý. Người mà không biết đủ tuy giàu nhưng lại nghèo, người biết đủ tuy nghèo lại vô cùng giàu có. Người mà không biết đủ bị năm dục kéo lôi, người biết đủ thấy vậy, cảm thấy thực đáng thương.” (Kinh Di Giáo-Sakya Minh-Quang dịch)

V. Người Đạt Quan Là Người Giàu Có, Hạnh Phúc
       Lại nữa, Người đạt quan còn là người khám phá ra kho báu vô tận của trời đất, lấy không hết, dùng không cùng. Cho nên, dưới con mắt thế gian nhìn, dường như họ rất nghèo, nhưng thực ra họ là người rất giàu có hạnh phúc. Trong bài Tiền Xích Bích Phú trên, Tô Đông Pha nói: “Lại nữa, trong cõi trời đất vạn vật đều có chủ, nếu không phải cái mình có, ta cũng không lấy dù chỉ mảy may. Còn như, gió mát trên sông, trăng sáng lưng núi, tai chạm đến thành tiếng, mắt bắt gặp thành sắc, nếu lấy không ai ngăn cấm, nếu dùng không bao giờ hết. Cho nên, trời đất chính là kho vô tận. Đây là cái mà tôi cùng với bạn thỏa thích lấy dùng." Trộm cắp của người là một điều xấu mà cũng là một trong năm giới cấm của Phật giáo. Nhưng kho báu trời đất bao la, là của chung của muôn loại, sao ta không biết lấy dùng? Ánh nắng ban mai, gió mát trưa hè, ánh trăng đêm thu, hoa nở, chim hót mùa xuân… bao nhiêu cái đẹp và niềm vui xung quanh mà mấy ai biết tận hưởng? 
       Nhưng cần nhớ, kho báu này là của chung của muôn loại, phải là người trí tuệ mới biết cách lấy dùng. Điều này hoàn toàn khác với lòng tham lam lạm dụng thiên nhiên, phá hoại môi trường, chỉ muốn lấy “của chung của muôn loại” làm của riêng cho mình và gia đình mình. Đây là phạm tội trộm cắp của chung, ngược đãi thiên nhiên, lạm dụng môi trường sống vì tham lam vật chất và ích kỷ bản thân. Ngày nay, nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở Việt Nam, nhiều người hay tập đoàn vì lòng tham đã và đang phạm tội này. Kết cuộc, theo luật nhân quả, con người đã trở lại hại mình, hại người, và con cháu sau này do trí tuệ bị che lấp bởi lòng tham vô độ.

        Ví dụ, nạn phá rừng gây lũ, khói công nghiệp gây ô nhiễm không khí, chất thải nhà máy gây ô nhiễm nguồn nước, sự rò rĩ chất phóng xạ và rác hạt nhân là những vấn nạn xã hội mà chưa có phương pháp giải quyết thỏa đáng. Ngày càng có nhiều cơn lũ quét gây mất mát của cải và cái chết thương tâm cho cư dân ở những nơi đầu nguồn do nạn khai thác rừng bừa bãi. Những bệnh tật hiểm nghèo như ung thư ngày càng nhiều do con người đã hít thở không khí khói bụi, sử dụng nguồn nước dơ bẩn, ăn rau cải có thuốc trừ sâu, dùng cá thịt nhiễm độc vì nước thải nhà máy và thức ăn tăng trọng v.v…. Đây là điều hoàn toàn trái với thái độ đạt quan của Phật giáo. 
        Người sống đạt quan biết cống hiến cuộc sống của mình cho việc tìm cầu chân lý, tìm ra hạnh phúc chân thật của nhân sinh. Vì mục đích này, họ đã từ bỏ vinh hoa phú quý, sống đời thiểu dục tri túc để dành năng lượng và thời gian cho mục đích cao cả hơn:


                           Cũng vì mang lấy chữ nghèo
                           Chữ nghèo đằng cuối có vần eo
                           Vần eo thúc đẩy mau thành đạo
                           Thành đạo vì nghèo ít kẻ theo!
                                (HT. Thích Thiện Tường)

        Theo thế gian, nhìn bề ngoài, người đạt quan dường như rất nghèo. Quả thực, họ rất nghèo về phương diện vật chất, nhưng đời sống nội tại họ rất phong phú, giàu có và hạnh phúc. Sở dĩ vậy, vì họ đã khám phá được kho báu vô tận của trời đất, hưởng dụng bất tận, nên có niềm hạnh phúc tinh thần mà người khác không có. Sau đây là phong thái của những bậc đạt quan. Ví dụ, Thiền sư Huyền Giác bảo:


                           Điệu xưa, phong thái tự thanh cao
                           Mặt gầy, xương cứng chẳng ai chào
                           Con Phật thân nghèo: manh áo vá
                           Lòng giàu: Đạo sáng tợ trăng sao!
                                (Chứng Đạo Ca-Sakya Minh-Quang dịch)

Hòa thượng Thích Tuệ Đăng (1873-1953), dịch giả Kinh Vu Lan và Kinh Báo Hiếu ở Việt Nam cũng từng có hai câu đối khi ẩn tu trong hang đá ở Bà Rịa:
                           Tá thạch vi tường, thục thức lão tăng cùng đáo để
                           Dĩ phong tác phiến, thùy tri đại đạo lạc vô cương!

             Dịch:
                           Mượn đá làm tường, ai biết lão tăng nghèo hết mức
                           Lấy gió làm quạt, đâu ngờ đạo lớn vui vô cùng!

       

Thân nghèo mà an vui hạnh phúc, đây là ý nghĩa của “An bần thủ đạo, duy tuệ thị nghiệp”:
 

                           Bậc Bồ-tát vô cầu biết đủ
                           Vui phận nghèo quy cũ tu hành
                           Trau giồi tuệ nghiệp lợi sanh
                           Vung gươm trí tuệ, dứt mành vô minh!
                                (Kinh Tám Điều Giác Ngộ)

 

VI. Thay Cho Phần Kết
        Thiền sư Lương Khoan良寬(1758~1831)người Nhật Bản là một người sống rất đạm bạc, hòa quang đồng trần cùng dân chúng trong đời thường:


                           Trong túi vài cân gạo
                           Bên lò bó củi khô
                           Ai hỏi dấu mê ngộ
                           Lợi danh bụi sạch chưa?
                           Đêm mưa trong am cỏ
                           Duỗi hai chân ngủ khò! 
                                (Thiền sư Lương Khoan-Sakya Minh-Quang dịch)

 

      Một hôm, có một tên ăn trộm đến viếng am cỏ của Ngài. Lục mãi nhưng chẳng thấy gì, ngài thức dậy, thấy vậy mới cởi chiếc áo khoác bên ngoài đưa cho nó. Tên ăn trộm nhận áo định đi. Ngài bảo: sao không cám ơn? Nó cám ơn rồi bỏ đi. Ngài quên bẵng việc này. Ba hôm sau trời trở lạnh, giữa đêm giật mình thức dậy. Cảm thấy lạnh, Ngài mới nhớ lại chuyện ăn trộm hôm trước. Ngài thầm thương cho tên trộm, tự nói: “không biết hắn có đủ ấm không?” Nhìn ra cửa sổ sáng trăng, Ngài lại bảo: “Ước chi ta có thể tặng cho hắn ánh trăng sáng này!”
    Bình: Tưởng rằng Lương Khoan rất nghèo, ai ngờ Ngài có kho báu vô tận của trời đất, mặc tình tiêu dao. Chẳng những vậy, Ngài còn sẵn lòng cho người. Nhưng ai là người chịu tin nhận đây? Tên trộm gặp được thiền sư mà chỉ có được một chiếc áo khoác, thực đáng tiếc thay!
                              Sakya Minh-Quang
                             Tu Viện Thiện Tường

s513037892264040667_p18_i1_w233.jpeg