Trang Nhà  <  Bài Viết  < Bài Ca Vô Úy

Bài Ca Vô Úy

Vì Đạo dấn thân cõi hiểm

Cung tên tà ác khắp nơi

Một giáp cà sa an nhẫn

Gươm tuệ vô úy sáng ngời.

(Sakya Minh-Quang, “Kệ Tụng Tri Ân Lịch Đại Tổ Sư”)

     Ngày xưa Chư vị Thánh Tăng và Tổ Sư vì truyền bá Phật Pháp đã vượt đường xa để đến những vùng đất mới. Các Ngài không những chịu khó khăn, nguy hiểm vì phải vượt qua núi rừng, sa mạc, biển khơi…, mà còn phải đối mặt trước những âm mưu chống phá, hãm hại, bạo lực… của ngoại đạo tà ác hay thế lực chính quyền bất nhân. Với tinh thần tri ân và học hỏi, chúng ta thử ôn lại vài gương sáng Hoằng Pháp vô úy của người xưa.

1. Gương nhẫn nhục Hoằng Pháp của Tôn giả Phú-lâu-na

     Thuở Đức Phật còn tại thế, Tôn giả Phú-lâu-na (S. Pūrna; P. Punna) một trong mười đại đệ tử của đức Phật, được tôn xưng là “thuyết Pháp đệ nhất”. Ngài đã sẵn sàng hy sinh thân mạng của mình đến những vùng xa xôi, nhiều người tà ác chưa biết đạo để giáo hóa họ. Cho nên, theo bút giả, Ngài Phú-lâu-na được tôn xưng là “thuyết Pháp đệ nhất”, không phải chỉ vì Ngài có khả năng hoằng Pháp, dung mạo uy nghi, thuyết Pháp trôi chảy thuyết phục quần chúng v.v.... Quan trọng hơn, Ngài Phú-lâu-na còn có tinh thần vô úy, sẵn sàng hy sinh vì Đạo và sức mạnh tinh tấn, nhẫn nhục. Dựa vào tinh thần vô úy và sức nhẫn nhục này, Ngài đã phát nguyện dấn thân vào chỗ khó khăn để cảm hóa, cứu độ những người bạc ác, chưa biết đạo! Kinh Tạp A-hàm đã ghi lại tinh thần hoằng Pháp của Ngài như sau.

ton-gia-phu-lau-na-thuyet-phap-de-nhat-4-1640.jpg

     Một hôm Ngài Phú-lâu-na đến thăm và thỉnh đức Thế Tôn thuyết Pháp. Giảng xong, đức Phật hỏi Ngài định đi đâu? Ngài Phú-lâu-na trả lời định đi đến xứ Du-lô-na (P. Sunāparantaka) ở phía Tây để hành đạo. Đức Phật nghe vậy liền cản: Người dân ở Du-lô-na hung dữ, khinh tháo, nóng nảy, thích chửi mắng, làm nhục người khác. Ông đến đó gặp việc như vậy, thì như thế nào?”

     Tôn giả Phú-lâu-na trả lời: “Kính bạch đức Thế Tôn! Nếu họ hung dữ, chửi mắng, làm nhục con, con chánh niệm như sau: ‘Họ là người hiền thiện, trí tuệ vì tuy hung dữ, chửi mắng và làm nhục mình, nhưng vẫn không dùng tay đánh mình, dùng đá ném mình.’”

     Đức Phật lại hỏi Phú-lâu-na: “Ông có thể an nhẫn, giải thoát trước sự hung dữ, lời mắng chửi, khinh nhục... của họ, nhưng nếu họ dùng tay đánh ông, dùng đá ném ông, thì sao?”

     Tôn giả Phú-lâu-na đáp: “Kính bạch đức Thế Tôn, nếu họ đánh hay ném đá con, con sẽ chánh niệm: ‘Họ là người hiền thiện, trí tuệ vì tuy đánh và ném đá con, nhưng không dùng dao, gậy... để giết hại cho con.’”

     Đức Phật lại hỏi Phú-lâu-na: “Nếu họ dùng dao, gậy... để giết hại ông thì sao?”

     Tôn giả Phú-lâu-na thưa: “Kính bạch đức Thế Tôn, nếu họ dùng dao, gậy... để hại mạng con, con chánh niệm như vầy: “Có những đệ tử của đức Thế Tôn vì nhàm chán thân này mà tìm cách này hay cách khác để xả thân. Những người ở xứ Du-lô-na là người hiền thiện, trí tuệ vì chỉ dùng chút ít phương tiện đã giúp con giải thoát khỏi thân già bệnh này!’”

     Nghe đến đây, đức Phật tán thán: “Lành thay, này Phú-lâu-na! Ông khéo tu nhẫn nhục. Ông nay có thể đến ở [và hành đạo] với người dân xứ Du-lô-na. Ông nay nên đi để độ những người chưa được độ, an tâm cho những ai chưa an, giúp những ai chưa chứng niết-bàn được chứng niết-bàn.”

     Sau khi được lời hứa khả của đức Phật, Tôn giả Phú-lâu-na đã đến xứ Du-lô-na ở phía Tây hành đạo. Nơi đây Ngài đã thuyết Pháp độ năm trăm vị Ưu-bà-tắc (Cư sĩ nam), xây dựng năm trăm trú xứ cho chư Tăng tu học và hoằng Pháp. Sau ba tháng an cư, Ngài cũng nhập vô dư niết-bàn nơi đó.

     Thuở nhỏ mới xuất gia, đọc câu chuyện của Ngài Phú-lâu-na qua tác phẩm Phật và Thánh Chúng của tác giả Cao Hữu Đính, bút giả đã vô cùng xúc động trước tinh thần xả thân vì Đạo của Ngài. Lớn lên tìm được chỗ xuất xứ, đọc nguyên văn trong Kinh Tạp A-hàm, bút giả lại càng xúc động hơn! Quả thực, chỉ có những bậc đại trượng phu, dám sống dám chết với lý tưởng mới có thể đảm đương sứ mệnh truyền trì Chánh Pháp Như Lai!

2. Gương đầu rơi bình thản của Tôn giả Sư Tử và Pháp sư Tăng Triệu

     Sư Tử là Tôn giả Sư Tử (S. Aryasimha), Tổ thứ 24 của Thiền Tông ở Tây Thiên. Sau khi Tôn giả Sư Tử đắc Pháp với Tổ Hạc-lặc-na, Ngài đến nước Kế Tân truyền Đạo. Một hôm, trong nước Kế-Tân có hai người ngoại đạo giả làm tỳ-kheo, âm mưu ám sát vua. Âm mưu thất bại, họ bị quan quân bắt. Vua nước Kế Tân là Di-La-Quật tưởng Phật giáo làm việc này, nên rất phẫn nộ. Vua ra lệnh triệt hạ chùa chiền, bắt nhốt Tăng Chúng. Vua trách: “Lâu nay ta sùng kính Phật giáo, quý trọng Tỳ-kheo mà họ lại manh tâm sát hại ta! Vậy đạo đức ở chỗ nào?”

     Vì sự tức giận ấy, vua đích thân cầm gươm đến chỗ Ngài Sư-Tử hỏi: “Thầy được năm uẩn không chưa?” Đáp: “Đã được năm uẩn không.” Vua hỏi tiếp: “Đã lìa sinh tử chưa?” Đáp: “Đã lìa sinh tử.” Vua bảo: “Nếu đã lìa sinh tử có thể cho tôi cái đầu của thầy không?” Đáp: “Thân tôi còn chẳng phải có, tiếc chi là cái đầu?”

     Vua liền vung gươm chém đầu Tôn giả. Máu phun cao mấy thước, màu sữa trắng. Cánh tay phải của Vua cũng lập tức rụng xuống! Bảy ngày sau vua mất. Sau đó, Thái tử Quang Thủ lên ngôi, lo mai táng vua cha và thỉnh Chúng Tăng cúng dường sám hối. Tăng Chúng lo xây tháp thờ Ngài.

     Lại nữa, Pháp sư Tăng Triệu, vị học trò thâm ngộ bát-nhã sâu sắc nhất của Pháp sư Cưu-ma-la-thập, cũng bình thản khi sắp bị chém đầu nơi pháp trường. Theo sách Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, khi Pháp sư Tăng Triệu gặp nạn vua Tần, lúc bị hành hình đã đọc lên bài kệ:

Tứ đại nguyên vô chủ

四大元無主

Ngũ uẩn bản lai không

五陰本來空

Tương đầu lâm bạch nhận

將頭臨白刃

Do tợ trảm đông phong.

猶似斬春風

 

Dịch:

Bốn đại vốn vô chủ

Năm uẩn xưa nay không

Khi đầu chạm đao bén

Như chém vào gió đông!

 

Sau này, Thiền sư Trường Sa bình luận: “Triệu Pháp sư đến chết vẫn tỉnh”.

      Có lẽ, thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã đọc hay nghe về Tổ Sư Tử hay Ngài Tăng Triệu, nên đã viết lên những dòng thơ sau:

Dao chém lìa tay nhịp mõ rời

Còn nghe niệm Phật tiếng lên khơi.

Búa phang đứt cổ, đầu văng xuống

Đất bỗng thành chuông rung khắp nơi!

(“Quả Chuông Vĩ Đại”)

3. Gương vị Pháp thiêu thân của Bồ-tát Quảng Đức

     Không phải chỉ có Tổ Sư Tử ở Ấn Độ, Pháp sư Tăng Triệu ở Trung Quốc, mà ở Việt Nam cũng có Hòa Thượng Thích Quảng Đức nêu cao tinh thần vô úy, hy sinh thân mạng để duy hộ Chánh Pháp. Trong Pháp nạn 1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức (1897-1963) là người đầu tiên tự thiêu vào ngày 11 tháng 06, 1963 để phản đối sự đàn áp, triệt hạ Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Việc tự thiêu này đã khích lệ tinh thần đấu tranh bất bạo động, bảo vệ Chánh Pháp của giới Phật tử, cũng như đánh động dư luận thế giới, thức tỉnh lương tâm nhân loại. Sự kiện "vị Pháp thiêu thân" này đã tạo nên sự đồng tình và ủng hộ Phật giáo Việt Nam khắp nơi trên thế giới. Nhờ vào sự đấu tranh bất bạo động, hy sinh của Ngài, cũng như bao nhiêu vị Tôn đức khác, cuối cùng Phật giáo Việt Nam vượt qua Pháp nạn, tiếp tục truyền thừa cho đến ngày hôm nay. Cho nên “Kệ Tụng Tri Ân Lịch Đại Tổ Sư” ghi:

Phật Việt gặp thời Pháp nạn

Thiêu thân thức tỉnh lương tri

Trái tim Bồ-tát Quảng Đức

Mãi còn một phiến từ bi.

     Theo ghi nhận, sau lễ trà-tỳ nhục thân của Hòa thượng Thích Quảng Đức, tất cả đều trở thành tro, nhưng trái tim của Ngài vẫn còn lưu lại. Trái tim này trở thành biểu tượng bi-trí-dũng của Phật giáo Việt Nam.

 

     Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã ghi lại cảm xúc của mình trước trái tim từ bi, xả thân bảo vệ Chánh Pháp của Ngài qua những vần thơ sau:

Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc

Lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi

Chỗ người ngồi: một thiên thu tuyệt tác

Trong vô hình sáng chói nét từ bi.

Rồi đây…rồi mai sau…còn chi?

Ngọc đá cũng thành tro, lụa tre dần mục nát

Với thời gian, lê vết máu qua đi

Còn mãi chứ, còn trái tim Bồ tát

Dội hào quang xuống chốn A-tì!

Ôi! Ngọn lửa huyền vi….

(“Lửa Từ Bi”-Vũ Hoàng Chương)

     Vâng, “Còn mãi chứ, còn trái tim Bồ-tát, dội hào quang xuống chốn A-tì”. Đó chính là trái tim bất diệt của Bồ-tát, không chỉ là của Hòa Thượng Thích Quảng Đức, mà còn là trái tim của bao đời Tổ Sư, chư Tôn đức khác đã hy sinh vì Đạo Pháp. Đây không phải là trái tim huyết nhục, mà là trái tim đại từ bi, đại trí tuệ, đại hùng lực!

 

Kết luận

     Người xưa nói: Bậc đại trượng phu là người giàu sang không buông lung, nghèo đói không đổi chí và uy quyền không khuất phục! (Phú quý bất năng dâm, bần cùng bất năng di, uy vũ bất năng khuất). Gương sáng hy sinh vì Đạo của Thánh Tăng Phú-lâu-na, Tôn giả Sư Tử, Pháp sư Tăng Triệu, Hòa Thượng Quảng Đức và biết bao những vị Hoằng Pháp Sư khác là hiện thân của tinh thần "uy vũ bất năng khuất", và là bài ca vô úy hào hùng!

     Bài ca vô úy này tuy không lời, nhưng đã vang vọng qua hơn hai ngàn sáu trăm năm lịch sử của Phật giáo. Bao nhiêu con tim đã rung động khi nghe bài ca này để phát nguyện bước lên con đường hoằng Pháp, tiếp nối bước chân của tiền nhân trong dòng lịch sử. Mãi đến hôm nay, bài ca vô úy này vẫn làm rung động sâu sắc bao trái tim của những người biết lắng nghe, trong đó có bút giả. Cho nên, xin ghi lại đây "bài ca vô úy" này để chia sẻ cùng đại chúng xa gần.

     Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật

Sakya Minh-Quang

Viết tại Tu Viện Thiện Tường

Ngày 01 tháng 10, năm 2021

s513037892264040667_p18_i1_w233.jpeg