KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ

                                               Dịch giả Sakya Minh-Quang

Mục Lục

                

                       QUYỂN THỨ NHẤT

 

           Đời Tây Tấn, Sa Môn Pháp Cự và Pháp Lập dịch từ Phạn sang Hán.

           Tỳ Kheo Sakya Minh-Quang dịch từ Hán sang Việt.

 

                     Phẩm Đốc Tín Thứ 5

 

Thí dụ 15

   Thuở xưa, phía đông nam nước Xá-vệ có một con sông lớn vừa rộng lại vừa sâu. Bên tả ngạn có hơn năm trăm gia đình chưa biết đạo đức, không tu giải thoát. Họ quen thói ương ngạnh, dối trá, tham lợi, buông lung theo tình ý.

   Đức Thế Tôn thường quán sát ai căn tánh có thể độ được thì đến hóa độ. Bấy giờ Ngài thấy các gia đình này có phước duyên đáng độ, nên đến bên bờ sông ngồi dưới một cội cây. Người làng thấy hào quang và đức tướng của đức Phật, ai cũng kinh ngạc cung kính, đồng đến đảnh lễ, thăm hỏi. Đức Phật bảo mọi người ngồi xuống rồi thuyết Pháp cho họ nghe. Nhưng tập khí gian dối, giải đãi của họ quá dày, nên dầu họ nghe mà không tin nhận lời nói chân thật. Đức Phật bèn hóa ra một người từ bên kia sông đi trên mặt nước, nước chỉ ngập gót, hướng đến chỗ Phật. Người đó đến nơi liền đê đầu lễ Phật. Mọi người trông thấy kinh ngạc, hỏi rằng:

      - Từ đời tổ tiên đến nay, chúng tôi đều sinh sống bên bờ sông này mà chưa từng thấy có ai đi trên mặt nước. Ông là ai mà có pháp thuật đi trên nước không chìm? Xin hãy cho chúng tôi biết.

   Hóa nhân đáp:

      - Tôi là người chân chất ở bên kia sông, nghe đức Phật ở đây nên vì hâm mộ đạo đức mà tìm đến. Tôi đến bờ sông gặp lúc không ghe thuyền, liền hỏi người dân bên kia nước nông hay sâu. Họ nói:

      - Nước chỉ ngập gót, sao không đi bộ qua? Tôi tin lời nên đi bộ qua đây, thật ra không có pháp thuật gì lạ.

   Đức Phật nghe xong khen ngợi:

      - Lành thay! Lành thay! Người có lòng tín thành có thể qua được bên kia bờ vực sinh tử. Con sông rộng chỉ vài dặm này, qua được đâu có gì lạ.

   Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ:

            Đức tin qua được biển

           Thu nhiếp là thuyền sư

           Tinh tấn trừ hết khổ

           Trí tuệ đến bờ kia.

               ***

           Kẻ sĩ có tín hạnh

           Bậc thánh thường ngợi khen

           Người vui đạo tịch tĩnh

           Mọi trói buộc giải trừ.

                ***

           Có tin mới đắc đạo

           Y pháp đến Niết-bàn

           Nhờ nghe thành trí tuệ

           Đến được chỗ quang minh.

                 ***

           Có tín và giữ giới

           Tuệ quán siêng tu hành

           Bậc trượng phu trí tuệ

           Qua được biển tử sinh.

       信能渡淵  Tín năng độ uyên

       攝為船師  Nhiếp vi thuyền sư

       精進除苦    Tinh tấn trừ khổ

       慧到彼岸  Tuệ đáo bỉ ngạn.

            ***

       

 

       士有信行  Sĩ hữu tín hạnh

       為聖所譽    Vi thánh sở dự

       樂無為者  Lạc vô vi giả

       一切縛解  Nhất thiết phược giải.

            ***

       信乃得道    Tín nãi đắc đạo

       法致滅度  Pháp trí diệt độ

       從聞得智  Tùng văn đắc trí

       所到有明    Sở đáo hữu minh.

            ***

       信之與戒    Tín chi giữ giới

       慧意能行    Tuệ ý năng hành

       健夫度慧    Kiện phu độ tuệ

       從是脫淵    Tùng thị thoát uyên.

   Bấy giờ người trong làng nghe Phật nói kệ khai thị, lại thấy người có đức tin qua được sông làm chứng, nên sinh tín tâm kiên cố, thọ trì ngũ giới làm Phật tử tại gia. Nhờ người trong làng đó có lòng tin hiểu tu hành, nên Phật pháp được phổ biến khắp nơi.

 

                                    **********************************************

Thí dụ 16

   Thuở xưa, lúc đức Phật còn tại thế có một vị trưởng giả tên là Tu-đà-la, giàu có vô số, tín ngưỡng đạo đức. Ông có lời thệ nguyện vào ngày mùng tám tháng chạp hàng năm thỉnh Phật và Tăng chúng về nhà cúng dường. Ông nguyện trọn đời thực hành và nếu mất đi, con cháu cũng phải tiếp tục không bỏ. Vì vậy khi mất, ông đã ân cần dặn dò con mình là Tỷ-đà-la phải thay mình lo việc cúng dường.

   Tỷ-đà-la vâng lời cha dạy, hàng năm thiết trai cúng dường. Nhưng về sau, gia cảnh lần lần nghèo khó. Tháng chạp đã đến mà trong nhà không có gì nên Tỷ-đà-la rất lo buồn. Đức Phật sai tôn giả Mục Liên đến hỏi:

      - Ngày cúng dường hàng năm của cha ông sắp đến. Ông đã chuẩn bị gì chưa?

   Tỷ-đà-la đáp:

      - Lời dặn bảo của cha, con đâu dám trái. Mong đức Thế Tôn từ bi tưởng đến, vào giờ ngọ ngày mùng tám quang lâm nhà con.

   Tôn giả Mục Liên liền trở về thưa lại với đức Phật như vậy.

   Về phần Tỷ-đà-la, ông cùng với vợ con đi vay mượn một trăm lượng vàng, sắm sửa đầy đủ đồ cúng dường cho ngày mùng tám. Đúng ngày ấy, đức Phật cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo đến thọ trai. Lễ cúng dường viên mãn. Tỷ-đà-la vô cùng hoan hỷ không chút hối tiếc. Giữa đêm hôm ấy, trong các kho cũ tự nhiên bảo vật đều đầy đủ như xưa!

   Sáng sớm hôm sau hai vợ chồng Tỷ-đà-la trông thấy vừa mừng lại vừa sợ. Họ sợ quan tra hỏi của cải này từ đâu mà có. Hai vợ chồng bàn nhau nên đến hỏi đức Phật. Rồi cả hai đến chỗ Phật trình bày đầy đủ sự việc.

   Đức Phật nói với Tỷ-đà-la:

      - Ông hãy an tâm sử dụng, không nên nghi sợ. Ông không trái lời cha, dầu chết cũng không thay đổi. Ông có tín tâm, trì giới, tàm, quý, đa văn, bố thí, trí tuệ. Nhờ có đầy đủ bảy món báu này nên phước đức chiêu cảm như thế, không phải là tai họa đâu. Người trí biết tu hành thì không luận là nam hay nữ sinh ra chỗ nào phước cũng tự nhiên sẵn đủ.

   Bấy giờ đức Thế Tôn nói kệ:

            Niềm tin và giới hạnh

            Hổ mình, thẹn với người

            Đa văn, thí, trí tuệ

            Đây là bảy món báu.

               ***

           Nhờ tin nên giữ giới

           Thường tịnh quán các pháp

           Trí tuệ luôn trau dồi

           Lới Phật dạy chẳng quên.

                                  ***

           Sống có những báu này

           Không luận nam hay nữ

           Trọn đời không đói nghèo

           Người hiền biết lẽ chân.

       信財戒財     Tín tài, giới tài

       慚愧亦財   Tàm, quí diệc tài

       聞財施財     Văn tài, thí tài

       慧為七財   Tuệ vi thất tài.

            ***

       從信守戒  Tùng tín thủ giới

       常淨觀法    Thường tịnh quán pháp

       慧而履行    Tuệ nhi lý hành

       奉教不忘    Phụng giáo bất vong.

            ***

       生有此財    Sinh hữu thử tài

       不問男女  Bất vấn nam nữ

       終已不貧  Chung dĩ bất bần

       賢者識真    Hiền giả thức chân.

 

   Tỷ-đà-la nghe Phật nói, lòng tin Tam bảo càng kiên cố, đảnh lễ dưới chân đức Phật rồi về nhà. Ông đem những lời Phật dạy thuật lại đầy đủ cho người nhà nghe. Nhờ đó ai cũng tin tưởng Phật pháp, được lợi ích lớn.